Tin tức

Báo cáo kết quả sản xuất vụ đông năm 2017 - 2018

07/01/2019 | Lượt xem: 31

Vừa qua sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh thanh hóa đã kết hợp với bộ khuyến nông tỉnh về việc báo cáo kết quả sản xuất nông nghiệp cho vụ đông năm 2017 - 2018 với các giải pháp nhằm thực hiện đẩy mạnh sản xuất được thực hiện như sau

I. Đánh giá kết quả sản xuất vụ Đông năm 2017-2018

1.Thuận lợi và khó khăn

a. Thuận lợi 

Từ tỉnh đến các địa phương đã xác định sản xuất vụ Đông là vụ sản xuất chính sau 2 vụ lúa. Phương án sản xuất Vụ Đông năm 2017-2018 được Sở Nông nghiệp và PTNT triển khai sớm; căn cứ vào Phương án của Sở, các địa phương đã tích cực xây dựng kế hoạch, phương án cụ thể, với các giải pháp nhằm thực hiện đẩy mạnh sản xuất.

Công tác cải tạo đồng ruộng, thủy lợi và giao thông nội đồng, dồn đổi, tích tụ đất đai tiếp tục được thực hiện, tạo điều kiện đẩy mạnh cơ giới hóa và ứng dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật mới và sản xuất vụ Đông.

 

Hội nghị tổng kết báo cáo kết quả sản xuất vụ đông năm 2018

Thị trường tiêu thụ các cây trồng vụ Đông khá thuận lợi, giá các sản phẩm vụ Đông đặc biệt rau đậu đều tăng cao có lợi cho người sản xuất, nhu cầu tiêu thụ nội địa có xung hướng tăng (các sản phẩm phục vụ các khu công nghiệp trong tỉnh), nhất là các cây có lợi thế tuyệt đối như ớt, dưa, khoai tây, rau ưa lạnh.

Vụ Đông năm 2017-2018 không quá căng thẳng do cây trồng vụ Thu, Mùa 2017 thu hoạch sớm hơn dự kiến 7-10 ngày, thời tiết đầu vụ thuận lợi cho phát triển vụ Đông.

Chính sách hỗ trợ khôi phục sản xuất vụ Đông sau bão và ATNĐ ban hành kịp thời đã góp phần khích lệ người dân khôi phục sản xuất, mở rộng diện tích rau ngắn ngày ưa lạnh ở vụ Đông đáp ứng nhu cầu thị trường.

b) Khó khăn

Sản xuất vụ Đông 2017-2018 diễn ra trong điều kiện thời tiết phức tạp do ảnh hưởng của 2 đợt mưa lớn (bão số 10 diễn ra từ ngày 14-17/9/2017 và áp thấp nhiệt đới từ ngày 9-16/10/2017) làm nhiều diện tích cây trồng vụ Đông bị ngập và thiệt hại, phải gieo đi gieo lại nhiều lần, làm tăng chi phí sản xuất, giảm hiệu quả kinh tế.

Tâm lý lo lắng bị thiệt hại của bà con nông dân do thời tiết mưa lụt nên không tạo được phong trào sản xuất vụ Đông; cụ thể là diện tích cây vụ Đông ưa ấm như ngô, lạc, đậu tương giảm so với năm trước.

Việc ứng dụng cơ giới hóa trong sản xuất vụ Đông còn hạn chế, đặc biệt là khâu làm đất trên đất 2 lúa, trong lúc lực lượng lao động nông thôn đang có xu hướng chuyển dịch từ sản xuất nông nghiệp sang công nghiệp may mặc, thương mại,... có thu nhập cao hơn.

Diện tích vụ Đông khó mở rộng tại các địa phương chưa có truyền thống làm vụ Đông. Doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm trồng trọt vẫn thiếu, chưa có nhiều thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa vụ Đông.

2. Kết quả sản xuất vụ đông năm 2018 như sau

Trước tình hình trên, Sở Nông nghiệp và PTNT đã tham mưu cho UBND tỉnh điều chỉnh kế hoạch sản xuất vụ Đông 2017-2018 từ 50.000 ha xuống còn 47.200 ha và kịp thời ban hành chính sách hỗ trợ khôi phục sản xuất sau mưa lũ.

Với sự cố gắng cao độ của các địa phương và nông dân trong tỉnh nên kết thúc vụ Đông 2018, toàn tỉnh gieo trồng được 46.005 ha, đạt 97,5% KH, giảm 4.352 ha so với CK. Kết quả sản xuất một số cây trồng chính như sau:

a) Diện tích, năng suất, sản lượng các loại cây vụ Đông

- Cây ngô: diện tích 14.830 ha, đạt 74,2% KH, giảm 4.983 ha so với CK; năng suất đạt 45 tạ/ha, giảm 2,17 tạ/ha so với CK; sản lượng 66.755 tấn, giảm 26.725 tấn so với CK;

- Cây lạc: diện tích 1.288 ha, giảm 196 ha so với CK; năng suất 20,6 tạ/ha, tăng 1,99 tạ/ha so với CK; sản lượng 2.655,9 tấn, giảm 109,1 tấn so CK;

- Đậu tương: diện tích 678 ha, giảm 1.184 ha so với CK; năng suất 14,7 tạ/ha, giảm 0,9 tạ/ha so với CK; sản lượng 996,7 tấn, giảm 1.918 tấn so CK;

- Khoai lang: diện tích 3.050 ha, giảm 1.054 ha so với CK; năng suất 73,9 tạ/ha, giảm 0,9 tạ/ha so với CK; sản lượng 22.539,5 tấn, giảm 7.195 tấn so với CK.

- Rau đậu, hoa cây cảnh: diện tích 20.216 ha, tăng 1.607 ha so với CK. Trong đó rau 19.984 ha, tăng 1.585 ha; năng suất 128,8 tạ/ha; sản lượng 257.442 tấn, tăng 12.775 tấn so với CK.

- Nhóm cây gia vị, dược liệu 2.623 ha, tăng 346 ha so với CK. Trong đó cây ớt 2.171 ha, tăng 323 ha; năng suất 77,1 tạ/ha, giảm 44,4 tạ/ha so với CK.

- Nhóm cây hàng năm khác 3.240 ha, tăng 1.119 ha so với CK. Trong đó, cây ngô làm thức ăn chăn nuôi 1.558 ha, tăng 178,2 ha; khoai tây 1.640 ha, tăng 586 ha so với cùng kỳ, sản lượng 20.798 tấn, tăng 7.105 tấn so với CK.

(Có Phụ lục kèm theo)

b) Giá trị cây vụ Đông năm 2017-2018 (tính theo giá hiện thời)

Vụ Đông năm 2017-2018 do điều kiện thời tiết khó khăn, diện tích cây vụ Đông giảm so với vụ trước (giảm 4.352 ha) và giảm chủ yếu ở cây trồng ưa ấm; năng suất và sản lượng ổn định do có sự hỗ trợ từ cây trồng ưa lạnh vào cuối vụ. Tuy nhiên giá trị cây vụ Đông tăng hơn so với vụ trước. Tổng giá trị cây vụ Đông đạt 2.904 tỷ đồng (giá hiện hành), tăng 3,56% so sới vụ Đông trước (tăng gần 60 tỷ đồng); bình quân đạt 63,1 triệu đồng/ha, là vụ có giá trị sản xuất cao trong năm, nhiều cây trồng cho thu nhập và lợi nhuận cao như ớt đạt bình quân 160 triệu đồng/ha, lợi nhuận từ 100-120 triệu đồng/ha; khoai tây xuất khẩu đạt 90-100 triệu đồng/ha, lợi nhuận 50-70 triệu đồng/ha; rau đạt bình quân 80 triệu đồng/ha, lợi nhuận từ 50-60 triệu đồng/ha; cây thức ăn chăn nuôi đạt 45 triệu đồng/ha, lợi nhuận từ 20-25 triệu đồng/ha,...

Đến ngày 09/10/2017 (thời điểm trước khi xảy ra mưa lũ) toàn tỉnh đã gieo trồng 31.009 ha, đạt 62% kế hoạch, trong đó: ngô 14.971 ha, ớt 1.885 ha, lạc 1.373 ha, đậu tương 776 ha, khoai lang 1.499 ha, rau đậu các loại 10.425 ha. Từ ngày 14-17/9 và 9-16/10/2017, do ảnh hưởng của hoàn lưu Bão số 10, Áp thấp nhiệt đới, trên địa bàn tỉnh đã có mưa to đến rất to trên diện rộng gây ngập lụt, diện tích các loại cây trồng vụ Đông thiệt hại 16.386,03 ha.

Trước tình hình trên, Sở Nông nghiệp và PTNT đã tham mưu cho UBND tỉnh điều chỉnh kế hoạch sản xuất vụ Đông 2017-2018 từ 50.000 ha xuống còn 47.200 ha và kịp thời ban hành chính sách hỗ trợ khôi phục sản xuất sau mưa lũ.

Với sự cố gắng cao độ của các địa phương và nông dân trong tỉnh nên kết thúc vụ Đông 2017-2018, toàn tỉnh gieo trồng được 46.005 ha, đạt 97,5% KH, giảm 4.352 ha so với CK. Kết quả sản xuất một số cây trồng chính như sau:

a) Diện tích, năng suất, sản lượng các loại cây vụ Đông 

- Cây ngô: diện tích 14.830 ha, đạt 74,2% KH, giảm 4.983 ha so với CK; năng suất đạt 45 tạ/ha, giảm 2,17 tạ/ha so với CK; sản lượng 66.755 tấn, giảm 26.725 tấn so với CK;

- Cây lạc: diện tích 1.288 ha, giảm 196 ha so với CK; năng suất 20,6 tạ/ha, tăng 1,99 tạ/ha so với CK; sản lượng 2.655,9 tấn, giảm 109,1 tấn so CK;

- Đậu tương: diện tích 678 ha, giảm 1.184 ha so với CK; năng suất 14,7 tạ/ha, giảm 0,9 tạ/ha so với CK; sản lượng 996,7 tấn, giảm 1.918 tấn so CK;

- Khoai lang: diện tích 3.050 ha, giảm 1.054 ha so với CK; năng suất 73,9 tạ/ha, giảm 0,9 tạ/ha so với CK; sản lượng 22.539,5 tấn, giảm 7.195 tấn so với CK.

- Rau đậu, hoa cây cảnh: diện tích 20.216 ha, tăng 1.607 ha so với CK. Trong đó rau 19.984 ha, tăng 1.585 ha; năng suất 128,8 tạ/ha; sản lượng 257.442 tấn, tăng 12.775 tấn so với CK.

- Nhóm cây gia vị, dược liệu 2.623 ha, tăng 346 ha so với CK. Trong đó cây ớt 2.171 ha, tăng 323 ha; năng suất 77,1 tạ/ha, giảm 44,4 tạ/ha so với CK.

- Nhóm cây hàng năm khác 3.240 ha, tăng 1.119 ha so với CK. Trong đó, cây ngô làm thức ăn chăn nuôi 1.558 ha, tăng 178,2 ha; khoai tây 1.640 ha, tăng 586 ha so với cùng kỳ, sản lượng 20.798 tấn, tăng 7.105 tấn so với CK.

(Có Phụ lục kèm theo) 

b) Giá trị cây vụ Đông năm 2017-2018 (tính theo giá hiện thời) 

Vụ Đông năm 2017-2018 do điều kiện thời tiết khó khăn, diện tích cây vụ Đông giảm so với vụ trước (giảm 4.352 ha) và giảm chủ yếu ở cây trồng ưa ấm; năng suất và sản lượng ổn định do có sự hỗ trợ từ cây trồng ưa lạnh vào cuối vụ. Tuy nhiên giá trị cây vụ Đông tăng hơn so với vụ trước. Tổng giá trị cây vụ Đông đạt 2.904 tỷ đồng (giá hiện hành), tăng 3,56% so sới vụ Đông trước (tăng gần 60 tỷ đồng); bình quân đạt 63,1 triệu đồng/ha, là vụ có giá trị sản xuất cao trong năm, nhiều cây trồng cho thu nhập và lợi nhuận cao như ớt đạt bình quân 160 triệu đồng/ha, lợi nhuận từ 100-120 triệu đồng/ha; khoai tây xuất khẩu đạt 90-100 triệu đồng/ha, lợi nhuận 50-70 triệu đồng/ha; rau đạt bình quân 80 triệu đồng/ha, lợi nhuận từ 50-60 triệu đồng/ha; cây thức ăn chăn nuôi đạt 45 triệu đồng/ha, lợi nhuận từ 20-25 triệu đồng/ha,...

Diện tích, sản lượng và giá trị cây vụ Đông 2017-2018

TT 

Cây trồng 

Diện tích (ha) 

Sản lượng (tấn) 

Giá trị (triệu đồng) 

2016-2017 

2017-2018 

2016-2017 

2017-2018 

2016-2017 

2017-2018 

  

Tổng cộng 

50.357 

46.005 

314.192 

565.510 

2.844.363 

2.904.252 

1

Ngô

19.813

14.830

93.517

66.735

467.587

367.043

2

Lạc

1.484

1.288

2.760

2.653

63.486

61.025

3

Đậu tương

1.862

678

2.923

997

40.927

13.953

4

Khoai tây

1.054

1.640

19.088

23.452

124.072

136.022

5

Khoai lang

4.104

3.050

29.754

22.540

163.647

130.729

6

Ớt

1.848

2.171

33.467

14.763

295.680

347.360

8

Cây thức ăn gia súc

2.121

3.240

106.050

162.000

95.445

145.800

9

Rau, đậu và cây trồng khác

19.919

21.279

26.632

272.371

1.593.520

1.702.320

 

II. Đánh giá kết quả sản xuất vụ Đông năm 2017-2018

1. Vai trò chỉ đạo điều hành, ứng phó với những bất thường trong sản xuất 

Định hướng về cơ cấu giống, thời vụ gieo trồng, chính sách hỗ trợ khôi phục sản xuất được thống nhất và triển khai kịp thời từ tỉnh xuống địa phương phù hợp với diễn biến thực tế đã giúp nông dân thực hiện đúng lịch thời vụ, cơ cấu giống kèm theo đó là công tác tuyên truyền về hiệu quả cây vụ Đông, tìm kiếm đối tác, mời gọi doanh nghiệp ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm, ... ngoài việc triển khai chính sách hỗ trợ sản xuất vụ Đông và khôi phục sản xuất theo Quyết định số 3447/QĐ-UBND và Quyết định số 3998/QĐ-UBND của UBND tỉnh, nhiều địa phương đã căn cứ vào tình hình thực tế, có các cơ chế bổ sung hỗ trợ sản xuất, giúp nông dân khắc phục khó khăn.

Số lượng, chủng loại và cơ cấu giống cây trồng vụ Đông được chuẩn bị khá tốt, phong phú về chủng loại, đầy đủ về nguồn cung, giá cả hợp lý; các loại vật tư khác như: phân bón hữu cơ, thuốc BVTV... được các đơn vị cung ứng chuẩn bị đủ về số lượng và chủng loại đáp ứng kịp thời cho sản xuất.

2. Sản xuất vụ Đông đã có sự quan tâm đầu tư của các doanh nghiệp kết hợp chặt chẽ với các HTX dịch vụ nông nghiệp và các công ty sản suất phân bón

Sản xuất vụ Đông tiếp tục được các tổ chức, cá nhân, nhất là các doanh nghiệp, các Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp quan tâm đầu tư; thể hiện thông qua việc liên kết sản xuất, hợp đồng bao tiêu nông sản hoặc trực tiếp thuê đất, mượn đất thời vụ để tự tổ chức sản xuất.

Các doanh nghiệp đã cung ứng kịp thời đầy đủ giống, phân bón chất lượng tốt phục vụ sản xuất; nhiều doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh ký hợp đồng liên kết sản xuất gắn với bao tiêu các sản phẩm nông sản cho nông dân như: ớt, dưa chuột, khoai tây, lạc, đậu tương, ngô dầy làm thức ăn chăn nuôi như: Công ty giống cây trồng Thanh Hóa, Công ty giống cây trồng Trung ương, Công ty cổ phần Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao, Công ty cổ phần nông nghiệp Quốc tế An Việt, Công ty TNHH Thành An Ninh Bình, Cty TNHH Á Châu Ninh Bình, HTX tiêu thụ sản phẩm Toàn Năng Thái Bình, HTX tiêu thụ nông sản Nga Sơn Thanh Hóa, công ty phân bón hữu cơ miền trung ...

Tổng lượng giống cung ứng phục vụ khôi phục sản xuất là 1.822,7 tấn, trong đó: cung ứng chủ yếu qua các HTX DVNN và các Công ty liên kết sản xuất là 1.502,7 tấn, gồm giống ngô 266 tấn, khoai tây 618,8 tấn, giống ớt 605 kg, hạt rau các loại 12,9 tấn; lượng giống hỗ trợ từ nguồn dự trữ quốc gia 320 tấn, gồm 300 tấn hạt giống ngô và 20 tấn hạt giống rau các loại. Cùng với đó, một số huyện đã trích ngân sách mua hỗ trợ hạt giống rau cho nông dân và một phần do các hộ dân tự mua để khôi phục sản xuất. Một số doanh nghiệp, HTX cũng đã thực hiện việc thuê đất thời vụ để sản xuất vụ Đông với các loại cây trồng có giá trị cao, diện tích đạt 135,7 ha.

3. mô hình cho hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất vụ Đông

- Mô hình trồng cà chua thu hoạch sớm tại huyện Thọ Xuân, năng suất đạt 33 tấn/ha, thu lãi trên 130 triệu đồng/ha; Mô hình sản xuất hành, tỏi tại các huyện Thọ Xuân, Yên Định đạt lãi trên 200 triệu đồng/ha; Mô hình sản xuất bí xanh, bí đỏ, dưa chuột tại các huyện Hoằng Hóa, Nga Sơn, Hậu Lộc, …cho thu nhập trên 150 triệu/ha/vụ. Huyện Yên Định với trên 1.000 ha ớt xuất khẩu đã cho giá trị sản xuất gần tương đương cả vụ mùa của huyện.

-  Mô hình liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm: cây rau, cây ngô ngọt giữa Công ty cổ phần Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao với các HTX của các huyện Thiệu Hóa, Hậu Lộc với diện tích trên 300 ha cho thu nhập đạt trên 80 triệu đồng/ha; Mô hình liên kết sản xuất ngô làm thức ăn xanh với các doanh nghiêp chăn nuôi bò tại các huyện: Yên Định, Thọ Xuân, Cẩm Thủy, Như Thanh, Như Xuân, Nông Cống,.. với diện tích 1.558 ha đạt 45 triệu đồng/ha, lợi nhuận từ 20 - 25 triệu đồng/ha; Mô hình liên kết sản xuất giữa Công ty cổ phần nông nghiệp Quốc tế An Việt với các HTX của các huyện Thiệu Hóa, Quảng Xương, Hoằng Hóa, Thọ Xuân, Tĩnh Gia,...với diện tích 756 ha đạt 100-120 triệu đồng/ha, lợi nhuận 50-70 triệu đồng/ha;…

- Các mô hình TBKT mới áp dụng trong sản xuất vụ Đông: Kỹ thuật che phủ nylon trong trồng bí, dưa, lạc, khoai tây vụ Đông giúp giữ ẩm, cây mọc đều, hạn chế cỏ dại; Kỹ thuật trồng khoai tây, đậu tương, ngô bằng phương pháp làm đất tối thiểu; Kỹ thuật rẽ lúa đặt bầu trồng bí, dưa đã khắc phục thời vụ sớm hơn 10 ngày; Biện pháp tưới nước tiết kiệm sử dụng khum che nylon được áp dụng trên hầu hết diện tích sản xuất cây giống, rau và su hào trái vụ được xây dựng và mở rộng, giúp giảm sức lao động, tăng năng suất và tăng hiệu quả sản xuất...

- Mô hình sản xuất rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP đã góp phẩn nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa, tạo uy tín, thương hiệu sản phẩm nông sản, từ đó nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường.

II - Định hướng, mục tiêu sản xuất vụ Đông năm 2018-2019

1. Định hướng

Phát triển vụ Đông 2018-2019 theo chủ trương tái cơ cấu ngành trồng trọt theo hướng nâng cao giá trị và phát triển bền vững. Tiếp tục xác định vụ Đông là vụ sản xuất đặc biệt quan trọng đối với tăng trưởng của toàn ngành cho năm tiếp theo vì vậy cần xác định rõ đối tượng, cơ cấu giống cần tập trung mở rộng diện tích cũng như các biện pháp kỹ thuật phù hợp để tập trung chỉ đạo.

Nhóm cây trồng chủ lực trong vụ Đông gồm: ngô, đậu tương, khoai lang, khoai tây, rau đậu các loại. Trong đó, cây ngô, cây rau phải được xem như cây chủ lực trong cả vụ Đông; trong đó cây ngô phục vụ mục tiêu lấy hạt và sản xuất sinh khối cho đại gia súc, cây rau phục vụ cho tiêu thụ trong nước và xuất khẩu tại một số thị trường truyền thống.

Tiếp tục đa dạng hóa các nhóm cây khác trong vụ Đông, đặc biệt chú ý trồng rải vụ đối với cây rau nhằm giảm áp lực trong tiêu thụ. Mở rộng diện tích các đối tượng có thị trường tiêu thụ tốt, ổn định như: ớt, dưa chuột bao tử, bí xanh, bí ngô, khoai tây (kể cả khoai tây cho chế biến), các loại hoa,...

Bố trí hợp lý cơ cấu nhóm cây ưa ấm, ưa lạnh và nhóm trung tính, các cây có giá trị kinh tế cao, gắn sản xuất với thị trường tiêu thụ.

Đẩy mạnh sản xuất rau ở những vùng qui hoạch, vùng sản xuất tập trung; sản xuất rau có đăng ký đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, bảo vệ môi trường sinh thái và nâng cao giá trị thu nhập đối với người sản xuất rau, góp phần đảm bảo an sinh xã hội.

2 . Mục tiêu

Diện tích gieo trồng phấn đấu 50.000 ha trở lên, trong đó:

- Cây ngô 18.060 ha; năng suất 47 tạ/ha; sản lượng 84.882 tấn;

- Đậu tương 1.580 ha, năng suất 16 tạ/ha; sản lượng 2.528 tấn.

- Cây lạc 1.450 ha, năng suất 20 tạ/ha; sản lượng 2.900 tấn.

- Khoai lang 3.975 ha, năm suất 70 tạ/ha, sản lượng 27.825 tấn

- Cây thức ăn chăn nuôi trên 2.000 ha; sản lượng 100.000 tấn

- Rau đậu các loại và khoai tây 20.935 ha trở lên, năng suất 130 tạ/ha, sản lượng 272.115 tấn. Các cây trồng khác 3.000 ha.

(Có Phụ lục kèm theo)

Tổng giá trị sản xuất vụ Đông đạt 2.800 tỷ đồng trở lên.

III. Các giải pháp chủ yếu

1. Xây dựng, triển khai Phương án, kế hoạch sản xuất vụ Đông phù hợp với điều kiện sản xuất của địa phương và triển khai đến tận thôn, xã

Căn cứ đăng ký kế hoạch sản xuất vụ Đông 2018-2019 của các địa phương, Sở Nông nghiệp và PTNT đã tổng hợp, rà soát lại kết quả thực hiện vụ Đông 2017-2018, quỹ đất có khả năng sản xuất vụ Đông 2018-2019, xây dựng, phân giao về kế hoạch diện tích và cơ cấu các cây trồng chủ lực.

Trên cơ sở kế hoạch tỉnh giao, căn cứ vào điều kiện thực tế của từng địa phương, để phát huy tính chủ động trong sản xuất, phát huy lợi thế đất đai, thị trường; đề nghị UBND các huyện, thị xã, thành phố định hướng và giao chỉ tiêu diện tích từng loại cây trồng cụ thể cho các xã, thị trấn; xây dựng Phương án, đề ra các giải pháp thực hiện đạt kết quả cao nhất, trong đó tập trung mở rộng các đối tượng cây trồng như: ngô đông trên đất 2 lúa, ớt, lạc, cà chua, bí xanh, ngô ngọt, ngô làm thức ăn tươi xanh cho gia súc, khoai tây, dưa xuất khẩu, rau màu có giá trị hàng hóa cao...; đồng thời chỉ đạo các xã, thị trấn xây dựng kế hoạch phương án sản xuất vụ Đông, triển khai cụ thể đến từng thôn xóm để nhân dân biết và thực hiện.

2. Tập trung chỉ đạo, điều hành sản xuất vụ Đông

Trước mắt, tập trung chỉ đạo phòng trừ sâu bệnh, phòng chống thiên tai bảo vệ sản xuất vụ Thu Mùa. Tổ chức thu hoạch nhanh, gọn diện tích lúa và cây trồng vụ Thu Mùa khi đến thời điểm chín để bảo đảm năng suất và sản lượng.

Quán triệt đến toàn thể cán bộ, đảng viên, nhân dân về vai trò, ý nghĩa và hiệu quả trong sản xuất vụ Đông; huy động, phát động các tổ chức chính trị, xã hội nghề nghiệp tham gia sản xuất vụ Đông bằng nhiều hình thức khác nhau như động viên, hỗ trợ công lao động, đổi công, tư vấn kỹ thuật, đứng ra bảo lãnh cung ứng vật tư, nhận đất của các hộ không có điều kiện tự tổ chức sản xuất... nhằm hỗ trợ nhân dân và tạo thành phong trào rộng khắp trên địa bàn.

Tăng cường thời lượng và nội dung tuyên truyền về các chủ trương, chính sách, các tiến bộ khoa học kỹ thuật, các mô hình sản xuất mới, hiệu quả; phân tích rõ lợi thế, hiệu quả trong sản xuất vụ Đông thông qua hệ thống truyền thanh, các cuộc họp thôn, bản, các buổi sinh hoạt cộng đồng, sinh hoạt câu lạc bộ ...để nhân dân nắm, hiểu và hưởng ứng tham gia.

Phân công các đồng chí lãnh đạo và cán bộ kỹ thuật phụ trách từng địa bàn cụ thể để hỗ trợ công tác chỉ đạo, điều hành, triển khai các giải pháp đề ra, hỗ trợ kỹ thuật cho nhân dân trong sản xuất.

3. Giải pháp về kỹ thuật

  • Giải phóng đất và kỹ thuật làm đất
  • Thời vụ và cơ cấu bộ giống các loại cây trồng

Đối với nhóm cây ưa ấm, gieo trồng vụ Đông sớm, thời vụ gieo trồng kết thúc trước 10/10/2018; đối với nhóm cây ưa lạnh gieo trồng sau 10/10/2018, cây khoai tây tập trung trồng từ 20/10/2018 đến 15/11/2018. Cần tính toán và khuyến cáo quy mô sản xuất từng loại cây trồng, bố trí rải vụ phù hợp để đảm bảo nguồn cung, hạn chế tình trạng dư thừa trong thời gian chính vụ. Cụ thể thời vụ, bộ giống một số cây trồng chủ lực như sau:

* Cây ngô:

Trên các chân đất chuyên màu (bãi ven sông, cát ven biển, đất đồi thấp, đất lúa chuyển sang làm màu); gieo trước 25/9/2018; sử dụng các giống ngô lai đơn chịu mật độ cao như VS36, PSC102, PSC747, B265, DK6919, DK8868, NK4300, CP511, CP501, PAC558, P4311, P4124, P4199, NK7328, CS71, 30Y87; các loại ngô nếp, ngô đường, ngô rau.

Trên đất 2 lúa thu hoạch sớm gieo trồng trước 30/9: sử dụng các giống ngô có tiềm năng cho năng suất cao như: VS36, PSC747, PSC102, CP333, B265, B06, CP111, PAC669, PAC339, DK9955, DK6818, DK8868, DK9898, NK6654, LVN 17, GS9989, DTC6869, NK6410, NK6639, VN5885, LVN092, 30Y87....; ngô nếp các loại.

Trên đất 2 lúa mở rộng diện tích vụ Đông: gieo trồng trước ngày 10/10/2018: sử dụng các giống ngắn ngày như DK6919, CP333, NK6654, PAC339, 30Y87, ngô nếp. Riêng đối với ngô làm thức ăn xanh cho gia súc cần bố trí các giống ngô cho sinh khối lớn như: PSC747, VS36, DK6919S, P4131, NK7328, VN5885,... để đạt năng suất chất xanh cao, thời vụ gieo có thể đến 15/10/2018.

Mỗi địa phương cần lựa chọn bố trí cơ cấu bộ giống phù hợp, mỗi huyện chọn từ 4-5 giống, mỗi xã chọn từ 2-3 giống đưa vào gieo trồng.

Biện pháp kỹ thuật: Áp dụng triệt để kỹ thuật làm ngô bầu, ngô bánh để kéo dài thời vụ, cây con sinh trưởng khỏe, đảm bảo mật độ; những vùng chủ động tưới, tiêu cần áp dụng kỹ thuật làm đất tối thiểu, kỹ thuật gieo thẳng hạt hoặc đặt bầu xuống gốc rạ; tăng mật độ ngô đạt 6-7 vạn cây/ha đối với đất màu và trên 5-6 vạn cây/ha đối với đất 2 lúa; bón phân sớm, đủ lượng và cân đối, phòng trừ sâu bệnh kịp thời, nhất là bệnh nghẹt rễ, huyết dụ ở giai đoạn đầu, phòng trừ chuột, sâu xám gây hại giai đoạn cây con gây khuyết mật độ.

* Cây đậu tương:

- Trà sớm và chính vụ gieo trước 20/9/2018, gieo trồng trong điều kiện thời tiết thuận lợi, sử dụng các giống có thời gian sinh trưởng trung bình (85-90 ngày) như: DT84, DT2001, ĐT22, ĐT26, Đ96-02, Đ9804; trà muộn gieo trước 05/10/2018 sử dụng các giống có thời gian sinh trưởng ngắn ngày (dưới 85 ngày) như: ĐT12, Đ8, ĐVN9, AK06.

Trong sản xuất đậu tương đông trên đất 2 lúa, triệt để thực hiện phương châm "gặt đến đâu, trồng đậu tương đến đó". Áp dụng rộng rãi kỹ thuật làm đất tối thiểu, gieo thẳng, gieo vãi, gieo bằng máy, gieo vào gốc rạ. Lưu ý đối với trồng đậu tương Đông trên đất 2 lúa cần làm rãnh thoát nước xung quanh ruộng.

* Cây khoai lang: Trồng càng sớm càng tốt, thời vụ trồng kết thúc trước 15/10/2018; sử dụng các giống KL5, 143, VX-37, KB1, BV1, VC68-2, và các giống khoai lang Nhật, Trung Quốc chất lượng cao,..

* Cây lạc: Kết thúc trồng trước ngày 05/9/2018. Sử dụng các giống lạc năng suất cao như L14, L18, L16, L26, TB25,... Hướng dẫn nông dân áp dụng phương pháp che phủ nilon, rơm rạ để hạn chế sâu bệnh, cỏ dại, giữ ẩm góp phần tăng năng suất, chất lượng sản phẩm.

* Cây bí xanh, bí ngô, dưa chuột, ớt: Các giống bí xanh: Bí xanh số 1, bí xanh Đài Loan, bí đao chanh, ... giống bí đỏ: F1-125, F1 979, bí đỏ Nhật Bản, bí đỏ Cô Tiên, ớt chỉ thiên TN 16, ớt cay số 20, ớt hiểm lai 207, ớt ngọt mix....

Cần áp dụng kỹ thuật làm bầu (bí, dưa chuột), ươm cây con (ớt) và chăm sóc cây con tốt; sản xuất theo quy trình VietGAP.

*Khoai tây: thời vụ tập trung từ 15/10/2018-20/11/2018, tốt nhất 25/10/2018-15/11/2018, nếu trồng muộn gặp thời điểm nhiệt độ quá thấp, âm u mưa phùn làm bệnh hại phát triển, làm ảnh hưởng đến năng suất. Giống khoai tây: Sử dụng các giống chủ lực Marabel, Diamant, Atlantic, Eben, Aladin, ...

* Rau, đậu: Ưu tiên phát triển sản xuất các loại rau cao cấp, sản xuất theo quy trình rau an toàn để tăng hiệu quả kinh tế và giá trị sản phẩm. Áp dụng các tiến bộ kỹ thuật như ứng dụng công nghệ cao sản xuất rau trong nhà màng, nhà lưới; trồng cà chua, dưa hấu bằng cây giống ghép; tăng cường sử dụng phân hữu cơ sinh học; tưới nước tiết kiệm, sử dụng màng phủ nông nghiệp trong trồng rau, dưa,...

4. Cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất vụ Đông 2018-2019

Tiếp tục triển khai các cơ chế chính sách của Trung ương, của tỉnh và địa phương đang còn hiệu lực thi hành để hỗ trợ, khuyến khích sản xuất nhất là chính sách khuyến khích tái cơ cấu ngành nông nghiệp.

Sở Nông nghiệp và PTNT đã cùng với Sở Tài chính tham mưu trình UBND tỉnh phê duyệt kinh phí hỗ trợ sản xuất vụ Đông 2018-2019 gồm: Kinh phí mua giống ngô gieo trồng trên đất 2 lúa: hỗ trợ các đơn vị đạt diện tích ngô đông trên đất 2 lúa theo kế hoạch được giao, khuyến khích các huyện miền núi tham gia trồng ngô trên đất 2 lúa, mức hỗ trợ: 0,65 triệu đồng/ha. Hỗ trợ kinh phí cho các tổ chức, cá nhân thuê đất, mượn đất để sản xuất các loại cây trồng vụ Đông gồm: ngô thương phẩm, ngô trồng dày làm thức ăn chăn nuôi, ngô ngọt xuất khẩu, dưa xuất khẩu, ớt, khoai tây, rau đậu các loại; quy mô đạt từ 5 ha tập trung trở lên; mức hỗ trợ: 3 triệu đồng/ha.

Ngoài hỗ trợ của tỉnh, căn cứ tình hình thực tế, các địa phương xem xét hỗ trợ thêm kinh phí để phát triển các đối tượng cây trồng có lợi thế trên địa bàn.n, hiệu quả; quản lý tốt chất lượng thuốc BVTV.


Theo nguồn : Báo nông nghiệp thanh hóa

Tags:

Đang quan tâm

Hỗ trợ khách hàng

Hotline
0868913023
0976702538
02373.500.413

Giải thưởng

Giải thưởng 1
Giải thưởng 2
Giải thưởng 3
Giải thưởng 4

Facebook

CÔNG TY CỔ PHẦN PHÂN BÓN HỮU CƠ MIỀN TRUNG

Địa chỉ: Xuân Yên - Phú Lộc - Hậu Lộc - Thanh Hóa

VPĐD: SN 37, khu 4, TT Hậu Lộc, Hậu Lộc, Thanh Hóa

Điện thoại: 0237 3500 413

Email: huucomientrung@gmai.com

THỐNG KÊ TRUY CẬP